Thay đổi tư duy sản xuất ở vùng cao từ những mô hình mới
Từ những diện tích đất sản xuất hiệu quả thấp, người dân vùng cao Quảng Ngãi tiếp cận kỹ thuật mới, ứng dụng công nghệ và liên kết tiêu thụ để nâng cao thu nhập.
Mạnh dạn thay đổi trên những vùng đất khó
Là địa phương miền núi với hơn 95% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, xã Sơn Tây Hạ (Quảng Ngãi) từ lâu chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp để phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, điều kiện địa hình phức tạp, thời tiết khắc nghiệt cùng tập quán sản xuất truyền thống khiến hiệu quả sản xuất chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có.
Nhiều diện tích đất lúa thường xuyên thiếu nước, trong khi các vùng đồi chủ yếu trồng keo nhưng chu kỳ thu hoạch kéo dài, giá cả bấp bênh.

Diện tích đất lúa kém hiệu quả ở xã Sơn Tây Hạ được chuyển qua trồng khoai lang nhật. Ảnh: L.K.
Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải tìm kiếm những loại cây trồng phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên, đồng thời mang lại giá trị kinh tế cao hơn.
Từ các chuyến tham quan, học tập kinh nghiệm ở nhiều địa phương, chính quyền và Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Sơn Tinh đã lựa chọn một số mô hình cây trồng mới để triển khai thí điểm.
Trên những diện tích đất lúa kém hiệu quả tại cánh đồng Mang Y Beo và Xà Ruông dọc theo suối Ruông, gần 4,7 ha được chuyển sang trồng khoai lang Nhật.
Ông Đinh Văn Sinh, ở thôn Nước Kỉa (xã Sơn Tây Hạ) cho biết, nhiều năm qua gia đình gắn bó với cây lúa nhưng sản xuất luôn phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên.
"Trước đây làm lúa nhưng nhiều vụ thiếu nước nên năng suất không cao. Khi địa phương vận động chuyển sang trồng khoai lang Nhật, gia đình tôi mạnh dạn tham gia. Hiện cây đang phát triển tốt, bà con cũng kỳ vọng hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn so với cây lúa trước đây”, ông Sinh chia sẻ.
Cùng với việc chuyển đổi những diện tích đất lúa kém hiệu quả, xã Sơn Tây Hạ cũng đang từng bước thay thế các vùng đồi trồng keo cho giá trị kinh tế thấp bằng những loại cây trồng phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên và nhu cầu thị trường.
Tại thôn Xà Ruông, hơn 1,8 ha đất đồi trước đây trồng keo của ông Phan Tấn Đức đã được chuyển sang trồng dứa Queen theo định hướng của địa phương và hợp tác xã.

Cây dứa Queen cho thấy sự thích ứng tốt trên vùng đất trước đây trồng keo. Ảnh: L.K.
Diện tích dứa được xuống giống từ tháng 4 năm nay với tổng mức đầu tư ban đầu khoảng 300 triệu đồng. Cùng với việc lựa chọn giống cây phù hợp, hệ thống tưới phun tự động cũng được lắp đặt trên toàn bộ diện tích để đảm bảo nguồn nước cho cây trồng, định kỳ khoảng 3 ngày tưới một lần. Đây là một trong những mô hình được kỳ vọng sẽ mở ra hướng sản xuất hiệu quả hơn cho vùng đất đồi ở Sơn Tây Hạ.
Theo ông Đức, quyết định chuyển đổi sang trồng dứa được đưa ra sau khi các thành viên hợp tác xã trực tiếp tham quan và tìm hiểu nhiều mô hình sản xuất thành công.
“Hợp tác xã được địa phương tổ chức đi tham quan các mô hình trồng dứa ở nhiều nơi. Qua tìm hiểu thực tế, chúng tôi nhận thấy dứa Queen phù hợp với điều kiện khí hậu vùng núi, chịu nắng nóng tốt và có triển vọng về đầu ra nên các thành viên thống nhất triển khai”, ông Đức cho biết.
Công nghệ và liên kết thị trường mở hướng đi mới cho vùng cao
Không chỉ thay đổi cây trồng, mô hình dứa tại Sơn Tây Hạ còn được xây dựng theo hướng liên kết sản xuất với doanh nghiệp. Hợp tác xã đã ký kết với đơn vị chế biến để bao tiêu sản phẩm sau thu hoạch.
Dự kiến sau khoảng 12 - 14 tháng, diện tích dứa sẽ bắt đầu cho trái. Nếu đạt kết quả như kỳ vọng, địa phương sẽ tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu, từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Không chỉ dừng lại ở việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, các mô hình sản xuất mới tại xã Sơn Tây Hạ còn được triển khai theo hướng ứng dụng khoa học công nghệ nhằm giải quyết những khó khăn vốn tồn tại lâu nay trong sản xuất nông nghiệp miền núi.

Hệ thống điện mặt trời được lắp đặt để cấp điện bơm tưới cho cây trồng. Ảnh: L.K.
Một trong số đó là hệ thống bơm tưới sử dụng năng lượng mặt trời được đầu tư cho vùng trồng khoai lang Nhật. Nguồn nước được bơm trực tiếp từ suối lên khu vực sản xuất mà không cần sử dụng điện lưới, giúp người dân chủ động nguồn nước tưới trong mùa khô, đồng thời giảm đáng kể chi phí sản xuất.
Ông Lương Nhật Ân, Phó Giám đốc Trung tâm Cung ứng Dịch vụ công xã Sơn Tây Hạ cho biết, việc chuyển đổi cây trồng và đầu tư hạ tầng sản xuất được địa phương tính toán dựa trên điều kiện thực tế của từng khu vực.
“Việc sử dụng hệ thống bơm tưới sử dụng năng lượng mặt trời giúp người dân thuận lợi hơn rất nhiều trong quá trình sản xuất so với phương thức tưới truyền thống. Bên cạnh đó, mô hình còn giảm chi phí và chủ động được nguồn nước trong những thời điểm nắng hạn”, ông Ân cho biết.
Cùng với hệ thống tưới hiện đại, cơ giới hóa cũng bắt đầu xuất hiện trên những cánh đồng miền núi. Các loại máy cày công suất lớn được đưa vào phục vụ khâu làm đất, góp phần giảm sức lao động, rút ngắn thời gian sản xuất và nâng cao hiệu quả canh tác. Đây được xem là bước thay đổi đáng kể đối với người dân vốn quen với phương thức sản xuất thủ công trong nhiều năm.

Những cây trồng mới ở xã Sơn Tây Hạ được liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm giúp người dân yên tâm về đầu ra. Ảnh: L.K.
Không chỉ ứng dụng công nghệ trong sản xuất, Sơn Tây Hạ còn đưa công nghệ số vào công tác quản lý và hỗ trợ người dân. Theo đó, các nhóm Zalo riêng được thành lập cho từng cánh đồng với sự tham gia của lãnh đạo xã, cán bộ chuyên môn, cán bộ kỹ thuật và người dân trực tiếp sản xuất.
Thông qua các nhóm này, tình hình sinh trưởng của cây trồng, những khó khăn phát sinh hay các yêu cầu về kỹ thuật được cập nhật thường xuyên. Nhờ đó, cán bộ chuyên môn có thể kịp thời hướng dẫn, hỗ trợ người dân mà không phải chờ các buổi kiểm tra trực tiếp như trước.
Ông Nguyễn Quốc Tiến, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Tây Hạ cho biết, định hướng của địa phương trong thời gian tới là phát triển nông nghiệp theo hướng ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung và liên kết với doanh nghiệp để nâng cao giá trị sản phẩm. Giai đoạn 2025 - 2030, xã Sơn Tây Hạ đang triển khai gần 5ha khoai lang Nhật và từng bước xây dựng khoảng 20ha vùng nguyên liệu dứa Queen có doanh nghiệp liên kết bao tiêu sản phẩm.
“Đối với địa phương miền núi, sinh kế của người dân chủ yếu vẫn dựa vào nông, lâm nghiệp. Tuy nhiên, thời gian tới sẽ không chỉ dừng ở sản xuất theo tập quán truyền thống mà từng bước chuyển sang làm kinh tế nông nghiệp. Chúng tôi tập trung triển khai các mô hình ứng dụng khoa học công nghệ, liên kết doanh nghiệp và xây dựng vùng nguyên liệu nhằm nâng cao thu nhập cho người dân”, ông Tiến thông tin.
Lê Khánh

