Quan niệm của Hồ Chí Minh về bản chất kinh tế - xã hội và các nguyên tắc xây dựng, tổ chức hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam
Trong nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề giải phóng nông dân chiếm một vị trí hết sức nổi bật. Điều đó là tất yếu trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân là đối tượng giải phóng và là lực lượng chủ yếu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
1. Bản chất kinh tế - xã hội của hợp tác xã
Trong luận đề gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã xác định rõ các giai đoạn của con đường mà cách mạng Việt Nam phải trải qua. Về cơ bản, đó cũng là các bước tiến tới giải phóng nông dân một cách hoàn toàn và triệt để, thông qua việc xác lập, xây dựng và tổ chức loại hình kinh tế hợp tác xã.
Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Hồ Chí Minh đã đề cập đến hợp tác xã một cách toàn diện, từ mục đích, lịch sử đến các hình thức, tổ chức. Nhưng phải đến cuối những năm 50 thế kỷ XX, tư tưởng về hợp tác xã của Người mới đạt đến mức hoàn thiện cả về chiều rộng và chiều sâu, dưới dạng khái quát về lý luận. Ở thời điểm đó, quan niệm về hợp tác xã nằm trong tổng thể đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, là một bộ phận cấu thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.
Nếu C. Mác, Ph. Ănghen phác thảo con đường hợp tác hóa của nông nghiệp ở các nước tư bản phát triển lên chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin phát triển lý luận chế độ hợp tác xã văn minh trong điều kiện một nước tư bản chủ nghĩa trung bình, thì Hồ Chí Minh đã hiện thực hóa và hoàn thiện lý luận đó ở một nước nông nghiệp lạc hậu, tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Tính phức tạp và cống hiến xuất sắc của Người chính là ở đây. Về lý luận, được kế thừa, soi sáng bởi các quan điểm mácxít, nhưng trên thực tiễn, chế độ hợp tác xã ở điều kiện Việt Nam chưa hề có tiền lệ trong lịch sử. Người vừa phải tìm tòi, vừa cùng Đảng lãnh đạo nhân dân thực thi.
Từ cách đặt vấn đề: mỗi dân tộc có một cách riêng đi lên chủ nghĩa xã hội, và trên cơ sở hiểu biết thấu đáo thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam, Hồ Chí Minh đã có một đề xuất mới: Đối với Việt Nam, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội "bắt đầu từ nông dân", lấy nông nghiệp làm khâu đột phá. Bác nhiều lần nhấn mạnh: "Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn.
Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã".
Theo tinh thần Hồ Chí Minh, hợp tác xã đồng thời thực hiện hai chức năng chính: đảm bảo cho nông dân làm giàu và duy trì sự phát triển bền vững cho nông nghiệp. Hay nói cách khác, hợp tác xã trở thành nhu cầu kinh tế, xã hội và kỹ thuật khách quan trong quá trình vận động đi lên của xã hội Việt Nam. Rốt cuộc, sự cường thịnh của quốc gia, sự no ấm của nhân dân phụ thuộc vào một khâu then chốt nhất: có tổ chức thành công hệ thống các hợp tác xã hay không?
Điều này lại càng thể hiện rõ hơn khi Người xác định mục đích của việc tổ chức hợp tác xã: "Chúng ta nhất định phải nâng cao dần đời sống của đồng bào nông dân. Nhưng nếu nông dân cứ làm ăn riêng lẻ thì đời sống không thể nâng cao. Muốn nâng cao đời sống thì chỉ có một cách là tổ chức nông dân làm ăn tập thể tức là tổ chức nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp. Tổ chức hợp tác xã tốt thì mới có thể gia tăng sản xuất, thực hành tiết kiệm, do đó mà nâng cao dần đời sống vật chất và văn hóa của nông dân, và củng cố khối liên minh công nông"1. Hoặc "chúng ta tổ chức hợp tác xã trước hết là nhằm mục đích nâng cao đời sống của nông dân”2. Với tư cách là hình thức tổ chức sản xuất, hợp tác xã đối lập với sự riêng lẻ, biệt lập. Dựa trên sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau, hợp tác xã đem lại hiệu quả cao hơn, thỏa mãn các nhu cầu của cuộc sống ngày càng cao.
Một điều dễ nhận thấy ở tư tưởng Hồ Chí Minh, mục đích của hợp tác xã và mục đích của chủ nghĩa xã hội là đồng nhất. Trả lời câu hỏi "Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì?", Người nói: "Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động"3. Vì thế, người nông dân tham gia, xây dựng hợp tác xã là trực tiếp xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nông thôn trở thành xây dựng hệ thống các hợp tác xã, điều đó cũng có nghĩa là xây dựng lại cả nền tảng kinh tế và kết cấu xã hội, phương thức sản xuất và đời sống tinh thần, biến người nông dân từ địa vị cá thể, làm thuê thành người chủ mọi mặt đời sống xã hội. Ở đây thấy rất rõ sự tương đồng, một gạch nối giữa quan niệm của Hồ Chí Minh và của V.I. Lênin về con đường giải phóng nông dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nông thôn.
Theo V.I.Lênin, chế độ hợp tác xã có ý nghĩa đặc biệt, trước hết là về phương diện nguyên tắc (nhà nước nắm quyền sở hữu tư liệu sản xuất), sau nữa hợp tác xã là bước quá độ sang một chế độ mới bằng con đường đơn giản nhất, dễ dàng nhất, dễ tiếp thu nhất đối với nông dân. Chính ý nghĩa đặc biệt này của chế độ hợp tác xã đã dẫn V.I. Lênin, sau này là cả Hồ Chí Minh, đến kết luận đồng nhất chế độ hợp tác xã với bản thân chủ nghĩa xã hội. V.I. Lênin quan niệm: "Khi nhân dân đã vào hợp tác xã tới một mức đông nhất, thì chủ nghĩa xã hội... tự nó sẽ được thực hiện"1, và... "Nếu không kể những tô nhượng..., thì thường thường trong hoàn cảnh nước ta, chế độ hợp tác xã là hoàn toàn đồng nhất với chủ nghĩa xã hội"2, hoặc "Nếu chúng ta tổ chức được toàn thể nông dân vào hợp tác xã thì chúng ta đứng vững được hai chân trên miếng đất xã hội chủ nghĩa".
Theo chúng tôi, sự thống nhất chế độ hợp tác xã với chủ nghĩa xã hội, mục đích hợp tác xã với mục đích chủ nghĩa xã hội ở V.I. Lênin và Hồ Chí Minh được nhìn nhận trên cả hai bình diện: Về số lượng, trong một nước tiểu nông, khi toàn bộ nông dân giác ngộ, tự giác và thấy có lợi khi tham gia hợp tác xã - một hình thức tổ chức kinh tế - xã hội văn minh, bảo đảm cho họ thoát khỏi những thảm họa của chế độ bóc lột, được ấm no, hạnh phúc - thì có nghĩa là toàn bộ xã hội đã được giải phóng, và xã hội đó, về thực chất đã là chế độ xã hội chủ nghĩa. Về chất lượng, chế độ hợp tác xã văn minh thể hiện đầy đủ, trọn vẹn các đặc trưng, bản chất của chính chủ nghĩa xã hội. Điều này được cụ thể bởi các hình thức sau đây:
Thứ nhất, không phải bất kỳ một chế độ hợp tác xã nào cũng đều hướng vào thỏa mãn các nhu cầu vật chất, văn hóa của nông dân, cũng là hiện thân của chủ nghĩa xã hội. Nói cách khác, chỉ có trong điều kiện giai cấp công nhân nắm chính quyền, lãnh đạo xã hội, toàn bộ tư liệu sản xuất chủ yếu, nhất là ruộng đất, đã thuộc về tay nhà nước thì chế độ hợp tác xã mới có thể đồng nhất với chủ nghĩa xã hội. Ở đây, V.I. Lênin và Hồ Chí Minh đã đặt chế độ hợp tác xã trên nền tảng kinh tế xác định, mà đặc trưng chủ yếu là sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất và một kết cấu thượng tầng chính trị tương ứng. Đặc điểm kinh tế, chính trị này làm bệ đỡ và tạo cho hợp tác xã có những thuộc tính riêng của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, đặt "chế độ hợp tác xã đồng nhất chủ nghĩa xã hội", cũng có nghĩa là quan niệm chủ nghĩa xã hội là một xã hội điển hình mà hệ thống tế bào của nó là mạng lưới các hợp tác xã văn minh và toàn bộ xã hội là "một liên hiệp các hợp tác xã", đồng thời khẳng định nguyên tắc chủ đạo trong quan hệ xã hội: dân chủ, bình đẳng, hợp tác và tương trợ.
Thứ ba, với tư cách là sự đồng nhất với chủ nghĩa xã hội, chế độ hợp tác xã chỉ có thể được thực hiện trên một nền tảng văn hóa nhất định, trong đó giáo dục và trình độ dân trí của toàn xã hội có ý nghĩa hàng đầu. Nền tảng văn hóa này lại là sản phẩm của các cơ sở kinh tế - kỹ thuật ở trình độ cao, là kết quả của toàn bộ sự vận động lịch sử, xã hội. Hình thành chế độ hợp tác xã văn minh, vượt lên trình độ, hiện trạng thực tại của bản thân nó, không tách rời việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, và tiến hành cuộc cách mạng văn hóa trong quảng đại quần chúng lao động. Chế độ hợp tác xã chỉ là sự biểu hiện tập trung cao độ thành quả của toàn bộ tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và nó đồng nhất với chủ nghĩa xã hội với ý nghĩa như vậy. Quan niệm của V.I. Lênin, Hồ Chí Minh, vì thế, không thể làm đơn giản cách hiểu của chúng ta về chế độ xã hội tương lai.
2. Nguyên tắc tổ chức và quản lý hợp tác xã
Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế - xã hội, nó quy tụ và thể hiện những thuộc tính bản chất của chủ nghĩa xã hội. Muốn tổ chức hợp tác xã thành công, hoạt động có hiệu quả, ngoài nhận thức đúng về lý luận, trong chỉ đạo thực hiện cần phải có phương châm, phương pháp và nguyên tắc phù hợp. Trong di sản lý luận của mình, Hồ Chí Minh đã khái quát và xây dựng thành một hệ thống các nguyên tắc, bảo đảm cho quá trình hợp tác hóa diễn ra phù hợp với các quy luật khách quan và điều kiện Việt Nam. Vấn đề này đã được đề cập nhiều, ở đây chúng tôi xin liệt kê 5 nguyên tắc hàng đầu, đến nay vẫn còn giữ nguyên tính thời sự.
Một là, tự nguyện. Bác nhắc nhở: "... tổ đổi công, hợp tác xã là phải tự nguyện, nghĩa là tuyên truyền giải thích ai muốn vào thì vào, không phải nắm cổ kéo người ta vào"1. Tự nguyện cũng đồng nghĩa với bác bỏ sự cưỡng chế, cưỡng bức, ép buộc nông dân. Thậm chí trong xã chỉ còn một hộ chưa vào hợp tác xã thì cũng phải để cho họ tự quyết định. Thế nhưng, hợp tác xã là một hình thức tổ chức sản xuất mới, ngay từ đầu không phải người nông dân nào cũng chấp nhận. Để họ có cơ sở lựa chọn và quyết định, cần tuyên truyền, giải thích. Trong tổ chức hợp tác xã, công tác giáo dục tư tưởng đi trước một bước là lẽ đương nhiên, nhiều khi đây lại là khâu đột phá mang tính quyết định.
Hai là, tuần tự, không nóng vội, tiến hành các hình thức từ thấp đến cao. Hợp tác xã không phải làm mau được mà phải làm dần dần. Ở nông thôn phải có tổ đổi công để gia tăng sản xuất rồi tiến lên hợp tác xã, tiến lên nông trường. Các bước đi và hình thức hợp tác xã không do ý muốn chủ quan mà được quy định bởi trình độ xã hội hóa sản xuất, năng lực quản lý của cán bộ, trình độ dân trí ở nông thôn. Bác khuyên: chớ ham làm mau, làm rầm rộ và như thế là phá hợp tác xã, chứ không phải là xây dựng nó. Các hình thức hợp tác: tổ đổi công, hợp tác xã cấp thấp, hợp tác xã cấp cao, phản ánh trong bản thân chúng sự thống nhất giữa các điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan. Vì thế, để chuyển từ một hình thức này sang một hình thức khác, "trước khi mở rộng quy mô hợp tác xã phải chuẩn bị thật tốt tư tưởng và vật chất. Tuyệt đối không nên nóng vội"2, làm ngược đi sẽ là thất bại và đem đến nhiều hậu quả khôn lường.
Ba là, bình đẳng, cùng có lợi, thiết thực. Bình đẳng theo nghĩa đã vào hợp tác xã "thì bất kỳ góp nhiều góp ít, vào trước vào sau, ai cũng bình đẳng như nhau"1. Hợp tác xã làm cho mọi xã viên "đều hưởng lợi công bằng", gắn bó, cố kết với nhau thành một khối. Việc chuyển đổi các hình thức hợp tác xã cũng chú trọng mặt chất lượng, tức là khả năng nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nông dân; ở hợp tác xã bậc cao nông dân có đời sống khá hơn ở hợp tác xã bậc thấp. Bản chất xã hội chính là ở đây.
Bốn là, dân chủ. "Muốn xây dựng tổ đổi công, hợp tác xã được tốt phải đoàn kết, phải làm cho mọi người tự nguyện tham gia, phải bàn bạc dân chủ và phải tính toán cho công bằng, hợp lý"2 và muốn quản lý tốt hợp tác xã, cán bộ quản trị phải dân chủ, tránh "quan liêu mệnh lệnh", làm việc gì cũng cần bàn bạc kỹ với xã viên. Nguyên tắc này bảo đảm hợp tác xã thật sự là của dân, do dân và vì dân, hoạt động dưới sự kiểm soát của nhân dân, tránh được tệ độc đoán, tham nhũng.
Năm là, phải có sự lãnh đạo - tổ chức hợp tác xã với sự hướng dẫn, giúp đỡ về tài chính của nhà nước. Mỗi hợp tác xã có ban quản trị. Theo Người, "Điều quan trọng bậc nhất hiện nay để phát triển mạnh nông nghiệp là: Chỉnh đốn các ban quản trị hợp tác xã cho thật tốt. Ban quản trị tốt thì hợp tác xã tốt. Hợp tác xã tốt thì nông nghiệp nhất định phát triển tốt".
Các nguyên tắc trên đây thể hiện đầy đủ bản chất kinh tế - xã hội của tổ chức kinh tế hợp tác xã hội chủ nghĩa. Việc vi phạm các nguyên tắc này làm biến dạng chế độ hợp tác xã ở nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
3. Đổi mới các hợp tác xã theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Ở miền Bắc, từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX đã bắt đầu quá trình hợp tác hóa nông nghiệp, góp phần từng bước giải phóng nông dân, đấu tranh thống nhất nước nhà. Thế nhưng, do nhiều sai lầm chủ quan trong chỉ đạo và thực hiện, mô hình hợp tác xã ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, triệt tiêu động lực phát triển sản xuất. Những sai lầm này lại tái diễn cả ở miền Nam sau ngày giải phóng và kéo dài đến tận những năm 80 thế kỷ XX, không kịp thời được sửa chữa, khắc phục. Hệ thống hợp tác xã tan rã từng mảng lớn và chưa tìm thấy hình thức phù hợp thay thế.
Sau "Khoán 10", năm 1988, nhất là sau khi có Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VII) năm 1993 cơ chế quản lý kinh tế đã được đổi mới, hộ nông dân đã thật sự trở thành đơn vị kinh tế độc lập tự chủ. Trong cơ chế kinh tế mới, các hợp tác xã kiểu cũ càng bộc lộ sự yếu kém, một số hoạt động cầm chừng, một số nữa tự tan rã. Kinh tế hộ, mặc dầu có nhiều lợi thế nhưng cũng có nhiều hạn chế không thể vượt qua. Càng phát triển sản xuất hàng hóa càng có nhu cầu hợp tác trên những cơ sở mới. Vì thế, trong khi đề cao kinh tế hộ gia đình, Đảng ta vẫn chủ trương: "Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế cá thể, tư nhân trong nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp dịch vụ nông thôn... khuyến khích các nhà kinh doanh từ thành phố, thị xã về nông thôn lập nghiệp".
Đổi mới các hợp tác xã hiện có, phát triển rộng rãi các hình thức hợp tác mới là một quá trình. Sự tìm kiếm các mô hình hợp tác xã thích hợp đã bắt đầu từ những năm 1960 ở Hải Phòng, Vĩnh Phú (cũ), nhưng chỉ thật sự thành phong trào trong 5 năm trở lại đây. Cùng với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường đầu tư, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới. Hợp tác xã là điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa toàn diện nhằm góp phần bảo đảm chiến lược an toàn lương thực quốc gia, xóa đói giảm nghèo, giải quyết nhiều vấn đề xã hội ở nông thôn. Đổi mới hợp tác xã là nhu cầu không chỉ các hộ giàu mà cả của hộ nghèo. Điều tra các loại hộ ở Vĩnh Phú (cũ), Hà Tây, Hải Hưng (cũ), Hà Tĩnh, Nam Hà, An Giang thì thấy 75-86,2% có nhu cầu liên kết, hợp tác. Từ nhu cầu bức xúc đó, nhiều hình thức hợp tác xã kiểu mới đã xuất hiện và hoạt động có hiệu quả. Trong đó mô hình hợp tác xã dịch vụ cổ phần là phổ biến, phát triển rộng khắp và ngày càng khẳng định mức sống của mình. Mô hình hợp tác xã này phù hợp với cơ chế thị trường, được nông dân chấp nhận.
Riêng ở miền núi phía Bắc, quá trình chuyển từ hợp tác xã kiểu cũ sang hợp tác xã dịch vụ cổ phần diễn ra theo 4 hình thức khác nhau: giữ nguyên hiện trạng, xã viên góp vốn để củng cố hợp tác xã; xã viên góp vốn mua tài sản hợp tác xã, tổ chức lại sản xuất; hình thức hợp tác xã cổ phần trên cơ sở mua lại toàn bộ cơ sở vật chất - kỹ thuật của doanh nghiệp nhà nước giải thể; thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước để vực dậy hợp tác xã có nguy cơ phá sản. Về cách thức tổ chức, hợp tác xã cổ phần có hai dạng: Xã viên góp vốn bằng nhau, mỗi xã viên là một cổ đông đồng hạng; xã viên góp vốn theo khả năng, có quyền biểu quyết bình đẳng, nhưng chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn. Hợp tác xã tổ chức theo nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, dân chủ, bầu ra ban quản trị từ những người thực sự lo cho xã viên, có khả năng quản lý, tổ chức sản xuất. Các thành viên trong ban quản trị thường góp vốn nhiều hơn, coi đó là hình thức của sự tín chấp, làm yên tâm các cổ đông xã viên. Quy mô các hợp tác xã cổ phần không quá lớn, thường trên dưới 100 hộ.
Về chức năng, hợp tác xã loại này mang tính dịch vụ, từng phần hay tổng hợp, chủ yếu là các sản phẩm "đầu vào", "đầu ra", dịch vụ điện, thủy lợi, các khâu làm đất, chăm bón. Xã viên quan hệ với hợp tác xã bằng các hợp đồng kinh tế. Các hợp đồng này có thể theo thời vụ, theo từng năm hoặc nhiều năm. Trong các hợp tác xã kiểu cũ, quan hệ giữa xã viên với hợp tác xã mang nặng tính hành chính - kinh tế, hợp tác xã ôm vào mình nhiều chức năng quản lý của chính quyền cấp cơ sở. Còn trong hợp tác xã dịch vụ, quan hệ này mang tính kinh tế - kinh doanh có lợi cho xã viên, đảm bảo cho hợp tác xã có thể duy trì, tồn tại, mở rộng. Chính đặc điểm này đòi hỏi ban quản trị phải thật sự nhanh nhạy, năng động, đáp ứng kịp thời với các nhu cầu của xã viên, giữ được chữ tín với "khách hàng". Bằng con đường tổ chức các hợp tác xã kiểu này, nhiều địa phương ở Hải Hưng (cũ), Nam Hà (cũ), Thái Bình, Phù Mỹ (Bình Định), Quảng Nam - Đà Nẵng... đã khẳng định lại vai trò nòng cốt của kinh tế hợp tác xã, tăng nhanh sản lượng lương thực, thực phẩm, thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, xóa đói giảm nghèo, đời sống vật chất, văn hóa của nông dân đã được nâng cao rõ rệt.
Tuy nhiên, mô hình hợp tác xã dịch vụ - cổ phần đang trong quá trình hình thành, có thể còn có nhiều bất cập, cần được theo dõi thường xuyên để đánh giá, rút kinh nghiệm. Tham khảo nông dân một số vùng, từ những thành công của các hợp tác xã kiểu này, trên phạm vi cả nước, trước mắt, chế độ kinh tế hợp tác xã cần có các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, giải quyết triệt để vấn đề ruộng đất, làm nhanh gọn việc cấp giấy chứng nhận sử dụng đất lâu dài cho các hộ xã viên. Nhiều nơi quá trình chuyển đổi hợp tác xã chậm chạp là do ách tắc ở khâu này.
Thứ hai, phải có sự hỗ trợ về tài chính của nhà nước. Theo V.I.Lênin, "Mỗi chế độ xã hội chỉ nảy sinh ra nếu được một giai cấp nhất định nào đó giúp đỡ về tài chính". Sự hỗ trợ về tài chính của nhà nước tạo ra "cú hích ban đầu", làm đà cho các hợp tác xã đứng vững, ổn định và phát triển.
Thứ ba, Luật Hợp tác xã ban hành sẽ làm bệ đỡ pháp lý cho việc tổ chức, hoạt động và tính thống nhất của hệ thống hợp tác xã trong phạm vi toàn quốc.
Việc đổi mới các hợp tác xã với các nội dung, nguyên tắc, điều kiện vừa nêu, về thực chất, là sự trở về theo đúng tinh thần tư tưởng Hồ Chí Minh. Và đây cũng là một bộ phận hợp thành trong nhận thức mới về mô hình chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang xây dựng./.
TS. PHẠM NGỌC ANH
(Viện Hồ Chí Minh, Học viện CT - HC quốc gia Hồ Chí Minh)

