Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã: những vấn đề lý luận và thực tiễn
Ban Biên tập giới thiệu Báo cáo đề dẫn của đồng chí LÊ HỮU NGHĨA - GS. TS. Uỷ viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tại Hội thảo “Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã - những vấn đề lý luận và thực tiễn” do Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản và Báo Nhân dân phối hợp tổ chức.
Hội thảo đã diễn ra đã lâu, nhưng nội dung vẫn còn mang tính thời sự đối với việc phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã.
Trên thế giới, lý luận và tư tưởng về hợp tác xã đã được hình thành gắn liền với thực tiễn phát triển hợp tác xã gần 250 năm qua. Ngày nay, theo đánh giá của Tổng thư ký Liên hợp quốc: hợp tác xã là trào lưu có tổ chức lớn nhất của xã hội văn minh loài người, đã trở thành phong trào mạnh mẽ có quy mô toàn thế giới. Liên minh hợp tác xã quốc tế ra đời năm 1895, là tổ chức đại diện của phong trào hợp tác xã quốc tế với trên 80 triệu xã viên, 222 tổ chức hợp tác xã cấp khu vực, cấp quốc gia của 100 nước trên thế giới; là một đối tác và thành viên tư vấn có tiếng nói quan trọng trong Liên hợp quốc.
Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đặc biệt quan tâm đến tất cả những thành tựu của văn minh nhân loại, những tiến bộ mọi mặt mà loài người đã đạt được..., trong đó có thành tựu về hợp tác xã. Tư tưởng về hợp tác xã đã được đề cập rất sớm trong những tác phẩm ban đầu của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Trong tác phẩm được viết từ năm 1922, Báo cáo gửi Ban biên tập về hoạt động của báo Le Paria, Bác đã trực tiếp sử dụng hình thức hợp tác xã trong hoạt động của tờ báo.
Đặc biệt trong tác phẩm Đường Kách mệnh - tác phẩm ra đời cách đây đúng 80 năm, tác phẩm lý luận điển hình, mẫu mực về hợp tác xã, là biểu hiện sinh động của sự gặp gỡ giữa văn minh phương Đông nói chung, văn hóa Việt Nam nói riêng, với văn minh phương Tây trên vấn đề hợp tác xã. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã tổng kết thực tiễn phát triển hợp tác xã của các nước trên thế giới, từ hợp tác xã đầu tiên ra đời năm 1761 tại Anh, do mấy người thợ dệt vải rủ nhau lập ra một cái hội “làm vải cho tốt và bán giá trung bình trong làng xóm”, đến các hình thức hợp tác xã ở Nga, Pháp, Đan Mạch, Đức... cho đến những ý tưởng về xây dựng hợp tác xã trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong nhiều bài báo và bài viết của Người, và trong Thư gửi Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng lao động Việt Nam tỉnh Nghệ An (ngày 21 tháng 7 năm 1969), Bác cũng rất quan tâm đến việc phát huy vai trò to lớn của hợp tác xã. Các nhà nghiên cứu đã tổng kết có tất cả hơn 154 tác phẩm Bác đề cập đến hợp tác xã, khoảng trên 500 lần Bác dùng cụm từ “hợp tác xã”. Nghiên cứu những tác phẩm của Hồ Chí Minh về hợp tác xã cho thấy:
- Hợp tác xã là một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã được Người đề cập một cách có hệ thống, từ những ý tưởng mang tính chất lý luận. Từ tác phẩm Đường Kách mệnh, mà chính trong đó cũng đã rất cụ thể, chi tiết từ lịch sử, mục đích đến các cách thức tổ chức hợp tác xã, đến những bài nói và viết sau này và tận trước lúc Người qua đời, những tác phẩm sau này tuy mang tính chất chỉ đạo thực tiễn nhiều hơn, nhưng đều chứa đựng một tư tưởng nhất quán về vai trò của hợp tác xã đối với đồng bào ta, nhất là đồng bào vùng nông thôn, nông nghiệp.
- Tư tưởng phát triển hợp tác xã luôn được Người quan tâm đặc biệt, và gắn liền với tư tưởng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Ngay từ những ngày cách mạng còn trong trứng nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về chế độ hợp tác, đưa nông dân từ chỗ làm ăn riêng lẻ đi dần lên tổ đổi công và tiến lên hợp tác xã từ bậc thấp đến bậc cao đã được coi là con đường đi đến ấm no, hạnh phúc và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người nói: Không có con đường nào khác, chỉ có vào tổ đổi công, tiến lên hợp tác xã, nông dân ta mới có thêm sức để cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất.
- Củng cố hợp tác xã nông nghiệp đồng nghĩa với việc củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nông thôn. Các hình thức hợp tác trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là có tính quy luật khách quan đã được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống. Người viện dẫn những ngạn ngữ của dân tộc, như: Nhóm lại thành giàu, chia nhau thành khó; Một cây làm chẳng nên non, nhiều câu nhóm lại thành hòn núi cao; Góp gạo thổi cơm chung cho khỏi hao của, tốn công, lại có nhiều phần vui vẻ...
- Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, các hình thức hợp tác xã rất đa dạng, từ thấp đến cao, từ nhỏ, đơn giản đến những hình thức lớn hơn. Người đã lấy những ví dụ rất dung dị, như: hai người tắm cho nhau thì nhanh và sạch hơn tắm một mình, góp tiền lại để mua với giá bán buôn thì rẻ hơn là riêng từng người mua lẻ, góp tiền lại cho một người sử dụng rồi luân phiên nhau sử dụng một khoản tiền lớn thì làm cho vốn to lên gấp bội; hợp tác xã tuy là để giúp nhau nhưng không giống như các hội từ thiện, cũng không như các hội buôn..., đến những loại hình hợp tác xã cụ thể như hợp tác xã tiền bạc; hợp tác xã mua; hợp tác xã bán; hợp tác xã sinh sản.
- Tác dụng to lớn của hợp tác xã cũng được thể hiện trên nhiều mặt, từ góp sức để thành mạnh, đến thực hành dân chủ như cái “chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”. Con đường hợp tác hóa là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nên mọi đảng viên phải tham gia, xây dựng. Người viết: Chi bộ tốt thì ban quản trị tốt. Ban quản trị tốt thì xã viên mới đoàn kết và hăng hái sản xuất, hợp tác xã mới được củng cố và phát triển tốt.
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong công cuộc đổi mới, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhưng vẫn tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác và hợp tác xã. Văn kiện Đại hội X của Đảng đã khẳng định: “kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”1.
Trước khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, nền kinh tế quốc dân nước ta đang lâm vào khủng hoảng trầm trọng, sản xuất sa sút, đời sống nhân dân khó khăn. Trên thế giới, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô tan rã. Phong trào hợp tác xã, tập đoàn sản xuất cũng đã đi vào thoái trào, tuyệt đại đa số các hợp tác xã nông nghiệp không phát huy tác dụng, nhiều hợp tác xã nông nghiệp đã bị giải thể.
Tiếp đến Khoán 100, rồi đến Khoán 10 ra đời là những quyết sách quan trọng, tạo ra bước đột phá trong việc hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, mà cốt lõi của nó là giải phóng sức sản xuất của các hộ nông dân, coi kinh tế hộ là đơn vị sản xuất độc lập, tự chủ; kèm theo đó là giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho kinh tế hộ. Sau đó, chúng ta tiến hành xây dựng Luật Hợp tác xã (năm 1996), rồi sửa đổi bổ sung Luật Hợp tác xã (năm 2003).
Có thể nói, nếu so với trước đây, khi hợp tác xã mới chỉ có một văn bản mang tính hướng dẫn, đó là Điều lệ hợp tác xã, thì trong thời kỳ đổi mới hợp tác xã đã có Luật riêng, mở đường về mặt pháp chế và thể chế, có tính pháp lý cao hơn trước, sâu rộng hơn trước, tạo điều kiện cho phong trào hợp tác xã phục hồi và phát triển, cho sự hình thành và ra đời các hợp tác xã kiểu mới.
Đến hết tháng 6 năm 2007, ước tính kinh tế tập thể bao gồm 17.599 hợp tác xã (trong đó có hơn 942 quỹ tín dụng nhân dân), 39 liên hiệp hợp tác xã và hơn 300 nghìn tổ hợp tác lớn nhỏ, trong đó khoảng 20% đã được các uỷ ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận.
Riêng trong nông thôn, nông nghiệp và thủy sản, theo số liệu Tổng điều tra năm 2006, do Tổng cục Thống kê tiến hành, tính đến ngày 01-7-2006, cả nước có 7.310 hợp tác xã hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 203 hợp tác xã so với cùng thời điểm năm 2001. Các hợp tác xã hoạt động tập trung chủ yếu ở một số vùng phía Bắc, là nơi phong trào hợp tác hóa phát triển mạnh từ những năm 1960. Tuy nhiên, cá biệt có một số tỉnh hiện không còn một hợp tác xã nông nghiệp nào, hoặc có nhưng rất ít.
Trong khi đó, một trong những mục tiêu của chủ trương phát triển kinh tế tập thể là hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ, thì trên thực tế, nhu cầu về sự trợ giúp đó của kinh tế đang ngày một tăng, nhất là trong việc cung cấp dịch vụ về giống, bảo vệ thực vật và tiêu thụ sản phẩm. Thế nhưng tại Đồng bằng sông Cửu Long, nơi sản xuất lúa gạo hàng hóa lớn nhất trong cả nước, cũng chỉ có 515 hợp tác xã nông nghiệp, tính ra bình quân mỗi tỉnh có 40 hợp tác xã, như vậy là còn quá ít.
Trong số 7.056 hợp tác xã nông nghiệp thực tế đang hoạt động, thì 83,6% số hợp tác xã chuyển đổi từ các hợp tác xã cũ, chỉ có 17,4% số hợp tác xã nông nghiệp là được thành lập mới theo Luật Hợp tác xã.
Nhìn chung, sau hơn 10 năm thực hiện Luật Hợp tác xã, Nghị định 15 của Chính phủ và sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), hoạt động của các hợp tác xã đã có những chuyển biến tích cực về tổ chức bộ máy, phương thức quản lý, kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh,... Nhiều hợp tác xã nông nghiệp đã đóng vai trò tích cực trong việc giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới... góp phần tăng cường tinh thần đoàn kết cộng đồng, củng cố quan hệ sản xuất mới trong nông thôn.
Tuy vậy, chất lượng hoạt động và quản lý chưa đều, nhiều hợp tác xã còn mang tính chất hình thức tuy đã hoàn tất các thủ tục chuyển đổi; hầu hết các hợp tác xã kiểu mới đều thiếu vốn, trong lúc các thủ tục để vay vốn còn nhiều bất cập; cơ sở vật chất-kỹ thuật của nhiều hợp tác xã vừa thiếu, vừa lạc hậu nên gây nhiều khó khăn trong việc mở rộng các hoạt động dịch vụ; thiếu cán bộ có năng lực quản lý, có tâm huyết và khả năng điều hành các hoạt động dịch vụ; phương hướng kinh doanh không ổn định. Vì vậy, hiệu quả kinh tế còn thấp, thu nhập của người lao động trong các hợp tác xã còn thấp; sức hấp dẫn của các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới chưa cao...
Tóm lại, thực tế phong trào hợp tác xã chưa phát triển được như Đảng và Nhà nước mong muốn, chưa ngang tầm với vai trò và vị trí của nó để trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Tại cuộc Hội thảo lần này, Ban tổ chức hy vọng các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách cũng như đại diện của một số hợp tác xã tiêu biểu thẳng thắn tranh luận, thảo luận một cách toàn diện để tham mưu cho Đảng và Nhà nước những vấn đề cốt yếu về phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác và hợp tác xã. Ban tổ chức hội thảo xin gợi ý một số vấn đề chính như sau:
1- Những tư tưởng của Hồ Chí Minh về hợp tác xã đến nay, còn những vấn đề gì cần tiếp tục đi sâu làm rõ, vấn đề vận dụng vào thực tiễn những tư tưởng của Người còn những vấn đề gì cần tiếp tục nghiên cứu và vận dụng để phong trào hợp tác xã phát triển mạnh hơn nữa. Nghĩa là, cần nhận thức rõ và sâu sắc hơn những vấn đề lý luận có tính chất nền tảng về hợp tác xã và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
2- Cần khẳng định rằng, những tư tưởng của Hồ Chí Minh về hợp tác xã là một kho tàng quý báu, mà một thời gian chúng ta đã chủ quan, nóng vội thực hiện không đúng tư tưởng của Người, đi không đúng quy luật để phong trào hợp tác xã yếu kém. Nhưng vấn đề đặt ra là tại sao hiện nay, về mặt thể chế đã được tháo gỡ khá thông thoáng, thì hợp tác xã lại không phát triển được như mong đợi. Có phải do thể chế hay do những nguyên nhân khác? Nếu do nhu cầu của người dân, nhất là kinh tế hộ gia đình thì chưa hẳn đã đúng, vì rất nhiều kinh tế hộ đang có nhu cầu hợp tác, nhất là trong những khâu, những công việc mà chính bản thân kinh tế hộ khó có thể làm được một cách hiệu quả, thì hợp tác xã lại chưa đáp ứng được. Chẳng hạn, dịch vụ kỹ thuật, thị trường đầu ra và đầu vào cho sản xuất. Đó chính là vai trò của hợp tác xã đối với kinh tế hộ gia đình.
3- Phát huy như thế nào vai trò của kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác và hợp tác xã với việc lôi cuốn hàng chục triệu hộ gia đình thoát khỏi cảnh tiểu nông, sản xuất nhỏ lẻ vào con đường sản xuất hàng hóa lớn, có thêm sức mạnh để nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp hàng chục triệu hộ nông dân hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
4- Kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác và hợp tác xã với việc thực hiện hàng loạt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến khắp mọi miền, mọi vùng của cả nước, nhất là vai trò của hợp tác xã với công tác xóa đói, giảm nghèo góp phần vào phát triển nhanh và bền vững đất nước.
5- Trong học thuật, hiện nay vẫn còn hai quan điểm khác nhau về mặt khái niệm, gọi là kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã như Nghị quyết Đại hội VIII, IX và X, hay gọi kinh tế hợp tác và hợp tác xã như Nghị quyết Đại hội VII. Điều đó cũng cần có sự đóng góp ý kiến của các đại biểu dự hội thảo lần này.
6- Chức năng chủ yếu của các hợp tác xã là kinh doanh có lãi hay tương trợ giúp đỡ các hộ xã viên cũng đang có những nhận thức rất khác nhau. Không ít địa phương còn chưa phân biệt rõ giữa góp vốn thành lập hợp tác xã với góp vốn thành lập công ty, như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
7- Có ý kiến cho rằng, ưu đãi hợp tác xã, thì sẽ có hàng loạt các công ty sẽ núp bóng hợp tác xã để được hưởng lợi một cách trá hình. Vậy, có cần tiếp tục ban hành những chính sách ưu đãi đối với hình thức kinh tế này không? Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, chủ trương, chính sách của chúng ta đã quá ưu đãi hợp tác xã rồi, cụ thể là Nghị định 15 của Chính phủ năm 1997. Có cả số ý kiến thứ ba lại nói về những ưu đãi đó dường như rơi vào tình trạng “chính sách thì trên trời, cuộc đời ở dưới đất”, nghĩa là những ưu đãi đề ra trong chính sách thì tốt, nhưng hiếm có hợp tác xã nào tiếp cận được. Chẳng hạn, giảm thuế đất, thì hợp tác xã không có đất để hưởng; ưu tiên vay vốn ngân hàng, thì không có tài sản thế chấp mà tiếp cận vốn...
8- Ban tổ chức hội thảo cũng mong rằng tại hội thảo này chúng ta sẽ thảo luận về cả vai trò của tổ chức đảng cơ sở, chính quyền cơ sở, các đoàn thể quần chúng ở các địa phương trong việc đẩy mạnh phát triển các hình thức kinh tế hợp tác và hợp tác xã hiện nay. Có ý kiến cho rằng, chúng ta đang từ thái cực này sang thái cực kia, rằng hợp tác xã nay đã có Luật nên cứ thế mà hoạt động theo Luật, nay coi các tổ hợp tác, hợp tác xã như một sự phát triển tự thân, tự phát nên không được hoặc rất ít được sự quan tâm của chính quyền, của các tổ chức đảng cơ sở. Như vậy, có phải là đảng viên chưa thực sự thấm nhuần, chưa nghiêm chỉnh chấp hành đường lối của Đảng không?
9- Và cuối cùng, hội thảo lần này phải đề xuất được những giải pháp thật hữu hiệu và thiết thực để tiếp tục đưa kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác và hợp tác xã tiến lên. Ngay cả việc chúng ta học tập kinh nghiệm của nước ngoài, thực hiện một bước việc đổi mới các tổ chức của hợp tác xã từ Trung ương đến địa phương như thế nào cho phù hợp với yêu cầu cuộc sống, chẳng hạn làm rõ chức năng quản lý nhà nước đối với hợp tác xã với chức năng “bà đỡ” - làm các dịch vụ có tính chất hỗ trợ các hợp tác xã... để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác, phát huy tác dụng thực sự đối với các hình thức hợp tác trên mọi miền đất nước.
Đúng như gợi ý của đồng chí Trương Tấn Sang, tôi hy vọng rằng, tại cuộc hội thảo này chúng ta phải bàn thảo thật thẳng thắn, trên tinh thần: “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, để nhìn thấu những nhu cầu thiết yếu của thực tiễn cuộc sống đối với vấn đề phát triển kinh tế tập thể, trong đó nòng cốt là hợp tác xã, đồng thời, cùng với phong trào ở cơ sở tháo gỡ những rào cản, vướng mắc về mặt tư duy, nhận thức tư tưởng và về thể chế để kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác và hợp tác xã phát triển mạnh mẽ và vững chắc, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thiết nghĩ, đó cũng là cách thiết thực nhất để chúng ta học tập và thực hiện tư tưởng của Hồ Chí Minh về hợp tác xã.

